ĐIỀU TRỊ CÁC KHUYẾT HỔNG PHẦN MỀM VÙNG CẲNG BÀN CHÂN


I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Khuyết hổng phần mềm vùng cẳng bàn chân gây lộ các mô quí do nhiều nguyên nhân khác nhau: viêm xương, chấn thương, gãy xương hở, bỏng, phẫu thuật điều trị các co rút hay khối u... nếu không được che phủ thường dẫn đến những biến chứng đáng sợ có khi phải cắt cụt chi hoăc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sinh hoạt và khả năng lao động của bệnh nhân về sau. Các khuyết hổng lộ gân, thần kinh, mạch máu chính hoặc xương khớp không thể có kết quả tốt nếu chỉ được điều trị bằng phương pháp tự liền sẹo hay ghép da, mà đòi hỏi phải được che phủ bằng một vạt tổ chức thích hợp có thể là các vạt lân cận như vạt da ngẫu nhiên, vạt da-cân, vạt cơ, vạt da-cơ hoặc các vạt từ xa như vạt chéo chân, vạt tự do.

Về mặt Giải phẫu học, vùng cẳng chân là vùng chịu sức nặng của cơ thể và thường xuyên bị va chạm nên rất dễ bị tổn thương, da và tổ chức dưới da rất mỏng lại nuôi dưỡng kém do không còn hệ thống mạch xuyên, khả năng mạch hóa yếu ví vậy khi tổn thương dễ bị loét, quá trình liền sẹo kéo dài. Hậu quả nguy hại là những tổn thương này lâu lành gây lộ các tổ chức bên dưới như: Gân, cơ, mạch máu, thần kinh. Việc điều trị kéo dài và gây khuyết hỗng phần mềm thường xảy ra.

Ngay từ thời xưa, các nhà ngoại khoa đã nghiên cứu nhiều phương pháp để khắc phục khuyết hỗng phần mềm như: ghép da mỏng, ghép vạt da tại chỗ, vạt chéo chân… nhưng do kích thước vạt nhỏ nên hạn chế, khả năng thành công thấp, thời gian điều trị kéo dài. Sự xuất hiện của ngành vi phẫu thuật thẩm mỹ ra đời đánh dấu bước ngoặt mới trong điều trị phẫu thuật tạo hình trong đó có điều trị khuyết hỗng phần mềm cẳng chân.

Sự nghiên cứu chi tiết hơn về giải phẫu cơ thể người cho ta hiểu sâu hơn về mạch máu, thần kinh chi phối cho da, cơ, xương …phát hiện ra nhiều vạt có cuống mới có thể áp dụng tốt cho điều trị khuyết hỗng phần mềm cẳng chân như vạt trên mắt cá ngoài, vạt thần kinh bì bắp chân, vạt gan chân trong…Vạt da có cuống đã chứng tỏ ưu thế hơn hẳn so với các phương pháp khác vì kỹ thuật thực hiện vi phẫu không khó, khả năng sống của vạt cao, độ che phủ khuyết hỗng rộng.

II. PHÂN LOẠI
  1. Dựa vào sự phân bố mạch máu, có thể phân chia thành các loại vạt sau:
- Vạt trục:  ược cấp máu bởi một trục mạch
- Vạt với mô liên kết: Vạt được lấy cùng mô liên kết bên dưới, cấp máu cho vạt là các mạch máu thuộc mạng mạch trong phần mô liên kết này.
- Vạt thần kinh - da  Có tác giả xem như một vạt trục : Cấp máu cho vạt là  ĐM hay mạng mạch đi theo thần kinh cho các nhánh nuôi da.
- Vạt da cơ: Vạt được lấy cùng một phần hay toàn bộ khối cơ bên dưới, được cấp máu bởi các động mạch xuyên cơ da.
 
  1. Theo kĩ thuật sử dụng:
- Vạt tự do: Là những vạt có cuống mạch đòi hỏi kỹ thuật nối vi phẫu để tái tạo sự tưới máu.
- Vạt bán đảo:  Đặc trưng của vạt này là xoay quanh một bản lề da, do đó khả năng che phủ bị hạn chế.
- Vạt đảo: Có cuống mạch máu dài nên biên độ xoay chuyển lớn, khả năng che phủ ít bị giới hạn so với vạt bán đảo.  Đa số các vạt da cân thuộc dạng này như vạt trên mắt cá ngoài, vạt mác. Vạt da cân thần kinh bì bắp chân dạng đảo tuần hoàn ngược dòng là một thí dụ điển hình.

3.    Theo thành phần mô:
- Vạt cân: gồm lớp cân sâu và một lớp mỏng tổ chức dưới da có chứa mạch ở lớp cân nông.
- Vạt dưới da: gồm lớp cân nông và tổ chức dưới da. Nó thường là vạt dạng trục.
- Vạt da: gồm toàn bộ cấu trúc ở trên lớp cân nông.
- Vạt da cân: thành phần bao g m da, tổ chức dưới da và lớp cân sâu.

III. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHUYẾT HỔNG PHẦN MỀM VÙNG CẲNG BÀN CHÂN
  1. Đóng kín trực tiếp:
Các khuyết hỗng phần mềm được đóng kín nhờ huy động da tại chỗ bằng cách tách hai mép da của vết thương để có thể khâu kín. Phương pháp này thường chỉ áp dụng được với vết thương mất da nhỏ  <3cm . Nếu sẹo loét khó thực hiện vì sự đàn hồi của da trong những trường hợp này rất kém.
 
  1. Ghép da:
Được sử  dụng từ cuối thế kỷ  XIX, cho đến nay vẫn còn được áp dụng rộng rãi, tuy nhiên việc điều trị che phủ các khuyết hổng vùng 1/2 dưới cẳng chân và cổ, bàn chân thì ghép da mỏng bị hạn chế do mảnh ghép không thể sống được trên tổ chức xương, gân, mạch máu và TK. Không đủ khả năng chịu các lực tác động , va chạm thường hay xảy ra với vùng này, ghép da dày kết quả không cao vì vùng nhận kém do tổ chức xơ nhiều.

3. Dùng vạt che phủ:                
Phương pháp che phủ bằng các vạt da mở từ xa như vạt chéo chân hoặc vạt da hình trụ kiểu  Philatov là phương pháp kinh điển góp phần giải quyết hiệu quả nhiều trường hợp khuyết hỗng phần mềm vùng cẳng chân nhưng cũng bộc lộ một số nhược điểm khó khắc phục, đó là tư thế gò bó, mổ nhiều thì và kéo dài thời gian nằm viện.  Do đó chỉ định phương pháp này rất hẹp.
Từ những năm 70 của thế kỉ  trước, với sự phát triển của vi phẩu thuật nhiều vạt tổ chức có cuống mạch nuôi đã được phát hiện và đưa vào điều trị có hiệu quả các khuyết hỗng phần mềm vùng cẳng chân, cổ và bàn chân.
Các vạt này được thiết kế dựa trên trục mạch máu hằng định khác hẳn với các vạt kinh điển các vạt tổ chức có cuống mạch nuôi được sử  dụng dưới hai dạng: dạng có cuống mạch liền và dạng vạt tự do. Vạt tự do có nối mạch bàng kỹ thuật vi phẫu là các phẫu thuật tinh vi, phẫu thuật một thì có thể lấy một vạt da lớn, nhưng đòi hỏi phẩu thuật viên có kinh nghiệm, trang thiết bị chuyên dùng nên chỉ áp dụng được ở những cơ sở y tế chuyên sâu. Vạt có cuống mạch liền với khả năng sống cao, biên độ che phủ rộng là một lựa chọn đáng lưu  ý. 
Cùng với sự phát triển của các quan điểm về tưới máu da,càng ngày vạt da cân càng dành được sự chú ý và tỏ ra có nhiều ưu thế nhờ giảm bớt khuyết hổng vùng lấy vạt, kỹ thuật mổ không đòi hỏi trang thiết bị đắt tiền, có thể áp dụng rộng rãi ở nhiều cơ sở ngoại khoa.

IV. VẠT GAN CHÂN TRONG CHE PHỦ KHUYẾT HỔNG PHẦN MỀM VÙNG GÓT CHÂN (Thực hiện tại Bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng Tp. Hồ Chí Minh)

Hình 1: Khuyết hổng phần mềm vùng gót chân


Hình 2: Bóc tách vạt gan chân trong có cuống mạch


Hình 3: Ghép da tại vị trí lấy vạt

Nguồn: BS Phương Nam - Trưởng đơn vị Tạo hình thẩm mỹ
Đặt câu hỏi cho bác sĩ

back top