Bệnh viện Chỉnh hình và Phục hồi chức năng Thành Phố Hồ Chí Minh
Banner Top
Tin tức | Báo cáo KHKT

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KÉO DÀI CHI BẰNG CỌC ÉP REN NGƯỢC CHIỀU ĐIỀU TRỊ NGẮN CHI DƯỚI Ở TUỔI THANH, THIẾU NIÊN

Cập nhật: 2018-11-20 13:13:43 Xem: 283

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KÉO DÀI CHI BẰNG CỌC ÉP REN NGƯỢC CHIỀU ĐIỀU TRỊ NGẮN CHI DƯỚI Ở TUỔI THANH, THIẾU NIÊN

TS BS CKII. Nguyễn Tiến Lý, BS Nội Thanh Tú, BS Nguyễn Xuân Đoàn*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị ngắn chi dưới ở tuổi thanh, thiếu niên bằng cọc ép ren ngược chiều theo nguyên lý của Ilirazov. Đối tượng nghiên cứu: Các tác giả nghiên cứu kết quả điều trị ngắn chi dưới cho 47 bệnh nhân (17 nam và 30 nữ), độ tuổi từ 5-32. Nguyên nhân ngắn chi chủ yếu là viêm, tiêu chỏm xương đùi và bệnh lý bẩm sinh. Phương tiện kéo dài chi là bộ cọc ép ren ngược chiều với hai hình thức: cố định hai bên (với đinh Steimann) và cố định một bên (với đinh có ren). Kết quả: 42/47 kéo dài ở cẳng chân; 5/47 kéo dài ở xương đùi. Độ dài kéo dài trung bình là 4,85 cm (ngắn nhất: 3 cm; dài nhất 15 cm). 100% liền vết mổ kỳ đầu, 100% liền xương (35/45 liền xương thẳng trục; 10 liền lệch mức độ cho phép). Biến chứng nhiễm khuẩn chân đinh (25,6%); Hạn chế gấp gối (5 bệnh nhân kéo dài ở đùi); Bàn chân thuổng (10/45 bệnh nhân có từ trước khi kéo dài chi). Kết luận: Ngắn chi chủ yếu do viêm, tiêu chỏm xương đùi. Chỉ định kéo dài chi cho trường hợp ngắn chi trên 3 cm. Kỹ thuật kéo dài chi bằng cọc ép ren ngược chiều, nhất là cố định một bên có nhiều ưu việt, an toàn, dễ sử dụng, vận hành và chi phí hợp lý. Các biến chứng (nhiễm khuẩn chân đinh, lỏng đinh, liền lệch…) có thể phòng ngừa và điều trị được.

Từ khoá: kéo dài chi, trật khớp háng

Target: Evaluate the results of short-term treatment of under-chiropractic patients with counter-clockwise piles according to the principle of Ilirazov. Research subjects: The authors studied short-term treatment outcomes for 47 patients (17 males and 30 females), aged 5-32. Short-term causes include inflammation, throatbone, and congenital disease.The means of extending the limbs is a piston rod opposite to two forms: fixed on both sides (with Steinmann nails) and fixed on one side (with threaded nails). Result:2/47 extends in the legs; 5/47 extends to the femur. The average length is 4.85 cm (the shortest: 3 cm, the longest is 15 cm). 100% complete incision, 100% complete bone (35/45 bones straight axis, 10 degrees deviation of the allowed level).Nail infection (25.6%); Knee restraint (five patients in the thigh); Spoiled feet (10/45 patients with pre-extended limbs). Conclution: Shortness of limb mainly due to inflammation, thimble of femur. Appointment for a short case of over 3 cm. The technique of extending the limbs by reversing piles, especially fixing one side has many advantages, safety, ease of use, operation and reasonable cost. Complications can be prevented and treated.

Key Word: limb extend, hip dislocation

ĐẶT VẤN ĐỀ:

Ngắn chi dưới ở tuổi thanh, thiếu niên là di chứng thường gặp do nhiều nguyên nhân: bệnh bẩm sinh, viêm, tiêu chỏm xương đùi, di chứng chấn thương…

Ngắn chi dưới gây khó khăn cho bệnh nhân trong sinh hoạt, lao động và thẩm mỹ. Về lâu dài, ngắn chi gây hậu quả biến dạng về xương, khớp, cột sống, khung chậu… và cần phải can thiệp kịp thời.

Ngắn chi mức độ nhẹ (<2 cm) có thể điều chỉnh bằng giầy, nẹp chỉnh hình. Ngắn >3 cm cần can thiệp kéo dài chi (nếu có thể).

Kéo dài chi đã được thực hiện từ lâu. Từ những năm 50 của thế kỷ XX, với phát minh của Ilirazov, kéo dài chi đã được ứng dụng rộng rãi và ngày càng phát triển. Lúc đầu ứng dụng điều trị ngắn chi do di chứng gẫy xương, do bệnh lý. Sau đó ứng dụng trong kéo dài chi thẩm mỹ. Phương tiện kéo dài chi cũng rất đa dạng như khung của Ilirazov, khung cố định một bên của Orthofix, cọc ép ren ngược chiều, khung của Taylor… Gần đây, còn có sự phối hợp giữa cố định bên ngoài và kết xương bên trong bằng đinh nội tủy. Mỗi phương pháp, dụng cụ có ưu, nhược điểm và có chỉ định nhất định.

Từ 2003 đến nay, chúng tôi đã ứng dụng cọc ép ren ngược chiều để kéo dài chi cho 47 bệnh nhân độ tuổi từ 5-32 ngắn chi dưới do bệnh lý và di chứng chấn thương, viêm xương. Đề tài: Kết quả kéo dài chi bằng cọ ép ren ngược chiều điều trị ngắn chi dưới ở tuổi thanh, thiếu niên nhằm hai mục đích:

  1. Đánh giá kết quả điều trị ngắn chi dưới ở tuổi thanh, thiếu niên bằng cọc ép ren ngược chiều theo nguyên lý của Ilirazov.
  2. Rút ra chỉ đinh sử dụng, săn sóc theo dõi và các biện pháp hạn chế biến chứng của kéo dài chi.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

1.Đối tượng nghiên cứu: Gồm 47 bệnh nhân; trong đó có 17 nam và 30 nữ. Độ tuổi từ  5- 32 tuổi. Ngắn chi dưới (chủ yếu ở đùi) do nhiều nguyên nhân (chủ yếu là tiêu chỏm xương đùi). Nghiên cứu được tiến hành tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 2003 đến 2018.

2. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến hành theo phương pháp tiến cứu, ca lâm sàng. Dụng cụ để kéo dài chi là bộ cọc ép ren ngược chiều của Nguyễn Văn Nhân với hai loại đinh Steimann và đinh có ren.

3. Kỹ thuật tiến hành:

- Làm công tác tư tưởng với bệnh nhân và gia đình bệnh nhân tạo sự tin tưởng và phối hợp trong quá trình điều trị.

-Khám xét lâm sàng và cận lâm sàng để đảm bảo không có phản chỉ định phẫu thuật. Đo độ ngắn chi, nguyên nhân ngắn chi và các tổn thương phối hợp (bàn chân thuổng, khuyết chi…).

- Kỹ thuật tiến hành:

+Với kéo dài ở cẳng chân: cắt xương mác đoạn 1/3G. Cắt thành xương cứng xương chầy đoạn 1/3 trên. Xuyên hai đinh (steimann hoặc đinh có ren) ở phía trên và hai đinh phía dưới ổ cắt xương chầy (trên cùng một bình diện). Riêng kéo dài một bình diện đinh có ren xuyên vuông góc với mào chầy. Lắp cọc ép ren ngược chiều hai bên hoặc một bên. Đóng vết mổ. Sau 3 ngày, bắt đầu dãn ổ cắt xương. Tốc độ dãn 1 mm/ngày, chia làm 3 lần. Sau 10 ngày chụp x quang một lần theo dõi tiến độ kéo. Khi đủ độ dài theo yêu cầu thì ngừng kéo và duy trì cố định cho tới khi liền xương chắc.

+ Với kéo dài ở xương đùi: Cắt thành xương cứng tại đầu dưới xương đùi. Xuyên đinh có ren theo hai bình diện: ngoài và trước ngoài đùi (kiểu chữ A) và kéo dãn tương tự như trên.

+Kỹ thuật bổ sung: Với những trường hợp ngắn chi có biến dạng bàn chân thuổng thì tiến hành cắt ngầm gân gót và nắn chỉnh dần với cọc ép ren ngược chiều với hai đinh Steimann (xuyên qua 1/3 dưới xương chầy và qua xương bàn chân).

4.Đánh giá kết quả. Các tiêu chí đánh gía kết quả gồm:

- Diễn biến tại vết mổ.

- Kết quả kéo dài xương: đo hàng tuần, tháng và lúc kết thúc

- Theo dõi các biến chứng nếu có: xoay, xoắn vặn trục, lỏng đinh, trôi đinh, nhiễm khuẩn chân đinh…

- Theo dõi kết quả liền xương.

Số liệu được thống kê và phân tích theo phương pháp thống kê thông thường với tỷ lệ phần trăm.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1. Đặc điểm tư liệu nghiên cứu:

1.1 Độ tuổi và giới tính:

Độ tuổi

Số bn

Nam

Nữ

5-10 tuổi

6

1

5

11-15 tuổi

24

11

13

16-20 tuổi

13

5

8

Trên 21 tuổi

4

 

4

Cộng

47

17

30

Tuổi ít nhất là 5 tuổi; tuổi lớn nhất là 32. Nam/nữ: 17/30.

1.2 Nguyên nhân ngắn chi:

Nguyên nhân

Số BN

Tỷ lệ

Ghi chú

Viêm, tiêu chỏm xương đùi

28

59,6%

Tình trạng viêm ổn định

Dị tật bẩm sinh

15

31,9 %

 

Di chứng chấn thương

2

4,26%

 

Viêm xương tuỷ xương đùi

2

4,26%

Tình trạng viêm ổn định

Cộng

47

100%

 

Số bệnh nhân ngắn chi do viêm, tiêu chỏm xương đùi chiếm tỷ lệ lớn (59,6%); 18/28 bệnh nhân khớp “mới” khá vững, bệnh nhân có thể chịu tải trong tốt trên chi ngắn. 10/28 bệnh nhân khớp “mới không vững” có chỉ định thay khớp háng toàn phần. Tuy nhiên, vì bệnh nhân còn quá trẻ và không có khớp nhân tạo phù hợp, nên vẫn phải kéo dài chi để khắc phục một phần di chứng do ngắn chi. Các bệnh nhân ngắn chi dưới được kéo dài chi khi tình trạng viêm (cũ) ổn định. Và ngắn chi xuất hiện thời gian dài (hàng vài năm đến chục năm) kể từ khi xuất hiện bệnh chính (viêm, tiêu chỏm…).

Số bệnh nhân có dị tật bẩm sinh (15 BN), ngoài ngắn chi còn có các tật khác như khuyết ngón IV, V bàn chân, hoặc khuyết xương mác (BN Hà, Linh…).

1.3 Độ dài ngắn chi:

Độ ngắn

Số bệnh nhân

3 cm

2

4 cm

23

5 cm

12

6 cm

5

7 cm

3

>7 cm

2

Ngắn nhất: 3 cm. Dài nhất: 15 cm. Trung bình: 4,85 cm.

1.4 Phương tiện cố định và kéo dãn:

  • Cố định hai bên với đinh Steimann: 19 BN (giai đoạn từ 2003-2007).
  • Cố định một bên với đinh có ren: 28 BN (sau 2007).

1.5 Vị trí cắt xương:

  • Cắt xương mác: 1/3 G (42/42BN100%)
  • Cắt xương chầy: đầu trên: 14 BN; 1/3 trên: 28 BN.
  • Cắt xương đùi: 1/3 dưới: 5 BN (100%).
  1. Kết quả điều trị:
    1.  Tình trạng vết mổ: 100% liền kỳ đầu, không có nhiễm khuẩn vết mổ.
    2.  Tình trạng liền xương: có 2 bệnh nhân đang trong quá trình điều trị; 45 bệnh nhân đã kết thúc điều trị.Liền xương tốt 35/45 BN; Liền xương lệch trục (trong giới hạn cho phép): 10/45 BN; Liền lệch phải can thiệp: 02/45 bệnh nhân (chuyển từ cố định một bên sang cố định hai bên do di lệch mở góc sang bên). Thời gian liền xương trung bình là 45 ngày/ cm kéo dài. Số bệnh nhân ngắn chi do bệnh bẩm sinh thời gian liền xương trung bình là 60 ngày/cm kéo dài.
    3.  Nhiễm khuẩn chân đinh: có 12/45 BN (25,6%) nhiễm khuẩn chân đinh. Mức độ nhiễm khuẩn chủ yếu là nhẹ và vừa, điều trị bảo tồn được bằng thay băng chân đinh hàng ngày và dùng kháng sing đường uống (nếu có viêm, tấy đỏ). Không có trường hợp nào phải thay đinh do nhiễm khuẩn chân đinh. Lỏng đinh chủ yếu ở nhóm bệnh nhân cố định hai bên với đinh Steimann.
    4.  Chức năng khớp gối, cổ chân:
  • Bàn chân thuổng: 10/45 bệnh nhân ngắn chi từ 6 cm trở lên có biến dạng bàn chân thuổng từ trước khi kéo dài chi và phải can thiệp làm dài gân gót. Các bệnh nhân trước khi kéo dài chi đều được mang máng nhựa cẳng chân bàn chân và duy trì trong suốt quá trình kéo dài chi.
  • Trật khớp chầy mác dưới: một bệnh nhân (Khôi 8 tuổi).
  • Co gấp gối, hạn chế vận động khớp gối: 5/5 bệnh nhân kéo dài ở xương đùi bị hạn chế gấp gối; trong đó có 01 bệnh nhân phải phẫu thuật làm vận động gối.

 

 

 

 

 

BÀN LUẬN

1. Chỉ định kéo dài chi: Ngắn chi dưới là di chứng do nhiều nguyên nhân. Ở trẻ em, nguyên nhân hàng đầu trong nghiên cứu của chúng tôi là do viêm, tiêu chỏm xương đùi. Có hai bệnh thường gặp là viêm mủ khớp háng (do nhiễm khuẩn huyết) và viêm, tiêu chỏm xương đùi (không nhiễm khuẩn). Đây lừ bệnh lý phổ biến ở các tỉnh phía Bắc những năm 80 của thế kỷ XX. Hậu quả của các bệnh trên là chỏm xương đùi bị tiêu và có thể gặp trật khớp háng (thể ra sau, lên trên). Ngoài ra, ngắn chi ở trẻ em còn có các nguyên nhân do trật khớp háng bẩm sinh, viêm xương tủy xương đường máu, do di chứng chấn thương và do dị tật bẩm sinh.

- Với những trường hợp trật khớp háng: thường các chỉ định đặt lại khớp hoặc thay khớp háng. Phẫu thuật đặt lại khớp dễ gây dính và mất chức năng khớp háng. Chỉ định thay khớp háng toàn phần ở trẻ em ít được khuyến cáo chỉ định và phương tiện thay khớp cũng không sẵn có. Do đó, chỉ định kéo dài chi nhằm tránh các biến dạng lâu dài cho cột sống, khung chậu là cần thiết.

Chỉ định độn chiều cao bằng dụng cụ chỉnh hình (giầy, nẹp) áp dụng với trường hợp ngắn ít (<3 cm). Với trường hợp ngắn chi trên 3 cm việc mang dụng cụ chỉnh hình gặp nhiều phiền toái và việc cung cấp các dụng cụ chuyên dụng như vậy ở Việt Nam cũng không dễ dàng. Hơn nữa, thói quen của người Việt hay đi chân đất nên không phải lúc nào cũng mang giầy được. Ngoài ra, việc cung cấp giầy chỉnh hình ở Việt Nam cũng không thuận lợi.

Vấn đề đặt ra là khi có trật khớp háng thì có nên kéo dài chi không? Vì nếu kéo dài chi thì đầu trên xương đùi có tiếp tục bị đẩy lên cao không?. Nếu không kéo dài thì phòng tránh biến dạng của cột sống, khung chậu bằng cách nào?.

Theo chúng tôi: với bệnh nhân tiêu chỏm xương đùi có trật khớp háng, nếu khớp “mới” mới đủ vững, thì có chỉ định kéo dài chi là tuyệt đối. Nếu khớp “mới” không vững thì chỉ định kéo dài chi là tương đối và cần có giải pháp khác như thay khớp nhân tạo.

2. Phương tiện và kỹ thuật kéo dài chi

- Lựa chọn phương tiện kéo dài chi: Đa số các tác giả đều sử dụng dụng cụ cố định ngoài để kéo dài chi. Ngoài ra, có thể kết hợp giữa cố định ngoài và kết xương bên trong xương chầy bằng đinh nội tủy có chốt. Phương tiện sử dụng bên ngoài thường là khung có nhiều bình diện với đinh Kirschner (kiểu Ilirazov); khung Taylor; Khung cố định một bên kiểu Orthofix…Chúng tôi sử dụng cọc ép ren ngược chiều vì các lý do:

+ Đơn giản

+ Dễ vận hành, bệnh nhân có thể tự căng chỉnh dưới sự hướng dẫn của bác sỹ.

+ Giá thành phù hợp.

Ưu, nhược điểm của hai phương pháp: cố định hai bên và cố định một bên:

+ Cố định hai bên (sử dụng đinh Steimann): đơn giản, dễ sử dụng, dễ vận hành.. Tuy nhiên, dễ lỏng đinh, trôi đinh và hay có di lệch mở góc ra sau.

+ Cố định một bên (sử dụng đinh có ren): đỡ vướng hơn, ít bị lỏng, trôi đinh, không bị mở góc ra sau nhưng có thể bị mở góc sang bên.

Qua thực tế ứng dụng cọc ép ren ngược chiều để kéo dài chi chúng tôi thường ưu tiên sử dụng cố định một bên do có nhiều ưu việt hơn.

  • Lựa chọn vị trí cắt xương:

+ Vị trí cắt xương mác: 1/3G, cắt rời hoàn toàn nhằm tránh liền xương sớm gây cản trở ổ xg chầy và biến dạng mở góc ra ngoài.

+ Vị trí cắt của xương chầy: 1/3 trên. Kỹ thuật: Cắt thành xương cứng, bảo vệ tối đa cốt mạc, tuỷ xương (tạo gẫy dưới cốt mạc hay gẫy kiểu cành xanh). Qua thời gian theo dõi với thời gian dài chúng tôi nhận thấy thời gian liền xương ở bệnh nhân cắt xương chầy vị trí 1/3 trên hay đầu trên xương chầy không có sự khác biệt. Do đó, chúng tôi lựa chọn cắt ở vị trí 1/3 trên xương chầy vì thuận tiện cho việc lựa chọn vị trí xuyên đinh.

- Tốc độ kéo dãn: 1mm/ngày, chia làm 3 lần. Sau khi dãn đủ theo yêu cầu thì  duy trì cố định với 30 ngày/ 1 cm kéo dài cho tới khi liền xương chắc. Chỉ có một bệnh nhân (5 tuổi) sau khi kéo dãn 5 cm và duy trì cố định thêm 15 ngày thì chuyển sang bó bột đùi bàn chân.

3. Biến chứng kéo dài chi và các biện pháp khắc phục:

- Nhiễm khuẩn chân đinh là biến chứng thường gặp trong kéo dài chi. Cũng như các biện pháp dung cố định ngoài khác đây là biến chứng thường gặp. Theo nghiên cứu của nhiều tác giả tỷ lệ này dao động từ 20-30%. Mức độ nhiễm khuẩn chủ yếu từ nhẹ đến trung bình. Việc phòng tránh biến chứng này không khó bằng các biện pháp như vô khuẩn tốt trước và trong khi mổ, săn sóc thay băng chân đinh tốt, mang túi để che chắn tránh bụi… Chúng tôi không gặp biến chứng nhiễm khuẩn chân đinh nào nghiêm trọng. Không có trường hợp nào phải rút bỏ và thay đinh khác.Việc thay thế phương pháp kéo dãn từ hai bên cân xứng (8 lỗ chân đinh) sang cố định một bên (4 lỗ chân đinh) cũng đã hạn chế được nhiễm khuẩn chân đinh.

- Biến chứng lệch trục (mở góc) và lỏng đinh, trôi đinh khi kéo dài chi: hay gặp trong kéo dài chi hai bên cân xứng. Khi kéo dài trên 4 cm dễ có hiện tượng mở góc ra sau, do phân bố cơ của cẳng chân không đồng đều, các cơ gấp ở phía sau có xu hướng làm gập góc cùng với sau một thời gian kéo dãn thì các chân đinh thường bị lỏng. Trường hợp di lệch mở góc lớn có thể khắc phục bằng thay thế bằng cố định một bên với một bình diện phía trước. Trường hợp kéo dài chi bằng cọc ép với cố định một bên có thể gặp biến chứng mở góc ra ngoài, nhất là trường hợp kéo dài trên 5 cm. Những trường hợp như vậy có thể chỉnh bằng thay từ cố định một bên sang cố định hai bên. Chúng tôi có hai bệnh nhân phải xử trí như vậy.

- Biến dạng bàn chân thuổng trong kéo dài chi: 50% ngắn chi dưới trong nhóm nghiên cứu có biến dạng bàn chân thuổng trước khi có kéo dài chi. Nguyên nhân là để thích nghi với ngắn chi. Khắc phục: nếu biến dạng ít hoặc chưa có biến dạng thuổng thì cho mang nẹp nhựa cẳng chân bàn chân từ ngay khi phẫu thuật kéo dài chi. Nếu có biến dạng thuổng thì kết hợp với kéo dài gân gót ngay cùng với kéo dài chi.

- Biến chứng trật khớp chầy mác dưới: Chúng tôi gặp ở một bệnh nhân (8 tuổi) bị dị tật bẩm sinh cẳng chân. Sau kéo dài 5 cm kiểm tra thấy bị trật khớp chầy mác dưới. Nguyên nhân do ổ cắt xương mác liền nhanh hơn ổ xương chầy và không có khoá mộng chầy mác. Để khắc phục biến chứng này cần cắt rời, thậm chí cắt đoạn xương mác nhằm tránh liền xương (sớm) của xương mác. Ngoài ra, những trường hợp trẻ nhỏ và ngắn chi nhiều (trên 5 cm) nên khóa mộng chầy mác dưới.

- Biến chứng hạn chế vận động khớp gối, cụ thể là hạn chế gấp gối, xảy ra ở 5 bệnh nhân kéo dài ở xương đùi. Nguyên nhân hạn chế vận động khớp là do bệnh nhân ngại đau, không dám tập vận động. Ngoài ra, việc xuyên đinh qua cơ cũng gây cản trở tập. Trong đó, có một bệnh nhân (Vy 28 tuổi), ngắn chi do viêm xương đùi. Sau khi kéo dài xương đùi 5 cm gối chỉ gấp được 20 độ, phải làm phẫu thuật vận động gối. Kết quả khớp gối cải thiện động tác gấp rõ rệt (gấp 100 độ). Các trường hợp còn lại (4), sau một thời gian tập sau rút đinh, phục hồi tốt.

KẾT LUẬN

1. Ngắn chi dưới ở tuổi thanh, thiếu niên có nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân chính là viêm, tiêu chỏm xương đùi và tật bẩm sinh. Kết quả điều trị 47 bệnh nhân với thời gian theo dõi nhiều năm cho thấy tất cả các ổ kéo dài đều liền xương. Không có trường hợp nào chậm liền hoặc khớp giả. Tỷ lệ nhiễm khuẩn chân đinh 25,6% ở mức độ nhẹ và  vừa. Độ tuổi thanh, thiếu niên thuận lợi cho kéo dài chi. Có thể kéo dài chi với cố định hai bên hoặc một bên. Cố định một bên có nhiều ưu việt hơn như: đỡ vướng, ít nhiễm khuẩn chân đinh, ít bị lỏng đinh…  Kỹ thuật không quá phức tạp, vận hành dễ dàng. Vấn đề là phải tuân thủ chặt chẽ kỹ thuật, quy trình điều trị và có sự phối hợp tốt giữa thầy thuốc, bệnh nhân và gia đình.

2. Một số biến chứng (bàn chân thuổng, nhiễm khuẩn chân đinh, hạn chế gấp gối, trật khớp chầy mác dưới…) có thể phòng ngừa và khắc phục được.

 

Tin tức liên quan
Bình luận

Video Giới Thiệu

KHAI TRUONG DVCSVT
Đặt hẹn khám

viêm đại tràng, viêm đại tràng co thắt,đại tràng co thắt,hội chứng ruột kích thích (IBS), tiêu chảy, tiêu chảy cấp, nhiễm độc thức ăn, rối loạn tiêu hóa